Lương 10 triệu/tháng có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không là thắc mắc của rất nhiều người lao động hiện nay. Thông thường, nếu đây là nguồn thu nhập duy nhất và sau khi trừ các khoản giảm trừ không phát sinh thu nhập tính thuế thì cá nhân chưa phải nộp thuế TNCN. Tuy nhiên, thuế thu nhập cá nhân không được xác định chỉ dựa trên mức lương nhận được mà còn phụ thuộc vào các khoản giảm trừ gia cảnh, bảo hiểm bắt buộc và những khoản được khấu trừ theo quy định.
Vậy mức lương bao nhiêu thì bắt đầu phải đóng thuế và cách tính thuế TNCN cụ thể như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây!
Hiểu đúng về cách tính thuế thu nhập cá nhân đối với người có lương 10 triệu
Nhiều người vẫn có quan niệm rằng lương dưới 10 triệu đồng/tháng thì chắc chắn không phải đóng thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Tuy nhiên, đây là cách hiểu chưa hoàn toàn chính xác. Theo quy định về thuế TNCN, cơ quan thuế không căn cứ trực tiếp vào mức lương nhận được mà xác định nghĩa vụ thuế dựa trên thu nhập tính thuế của cá nhân sau khi đã trừ các khoản giảm trừ theo quy định.
Cụ thể, thu nhập tính thuế được xác định bằng cách lấy thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản giảm trừ, bao gồm:
• Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế.
• Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu đã đăng ký và đủ điều kiện.
• Các khoản bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
• Một số khoản đóng góp, khoản giảm trừ khác theo quy định của pháp luật.
Công thức tính:
| Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế - Các khoản giảm trừ |
Sau khi xác định được thu nhập tính thuế, cơ quan thuế mới áp dụng biểu thuế suất tương ứng để tính số thuế TNCN mà cá nhân phải nộp. Vì vậy, cùng một mức lương nhưng mỗi người có thể có số thuế phải đóng khác nhau tùy thuộc vào số người phụ thuộc, các khoản bảo hiểm và các khoản giảm trừ được hưởng.

Thuế thu nhập cá nhân dựa trên thu nhập tính thuế của cá nhân sau khi đã trừ các khoản giảm trừ theo quy định
Lương 10 triệu có phải đóng thuế TNCN không?
Với trường hợp người lao động chỉ có một nguồn thu nhập duy nhất từ tiền lương 10 triệu đồng/tháng, không có thêm các khoản thu nhập chịu thuế khác thì thông thường chưa phát sinh nghĩa vụ nộp thuế TNCN.
Lý do là mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế đã cao hơn mức thu nhập này. Theo mức giảm trừ hiện hành, cá nhân được giảm trừ 11 triệu đồng/tháng cho bản thân trước khi tính thuế.
Ví dụ:
• Thu nhập từ tiền lương: 10 triệu đồng/tháng.
• Giảm trừ gia cảnh cho bản thân: 11 triệu đồng/tháng.
• Thu nhập tính thuế: 10 triệu - 11 triệu = không phát sinh.
Như vậy, trong trường hợp này, người lao động không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mức lương 10 triệu đồng không phải là "mốc miễn thuế" cố định áp dụng cho tất cả mọi người. Nghĩa vụ thuế còn phụ thuộc vào tổng thu nhập thực tế và các khoản giảm trừ mà mỗi cá nhân được hưởng.
Vì sao nhiều người nhầm rằng lương dưới 10 triệu thì không phải đóng thuế?
Sở dĩ có nhiều người cho rằng lương dưới 10 triệu đồng thì không phải đóng thuế TNCN là bởi trên thực tế, phần lớn người lao động có mức thu nhập này thường chưa vượt qua mức giảm trừ gia cảnh. Tuy nhiên, pháp luật không quy định rằng cứ nhận lương dưới 10 triệu là mặc nhiên được miễn thuế.
Một người có mức lương dưới 10 triệu đồng/tháng vẫn có thể phát sinh thuế TNCN nếu thuộc một trong các trường hợp như:
• Có nhiều nguồn thu nhập khác nhau ngoài tiền lương.
• Có thêm các khoản thu nhập chịu thuế như tiền công, tiền thưởng, thu nhập từ hoạt động khác.
• Không đăng ký hoặc không đủ điều kiện áp dụng giảm trừ người phụ thuộc.
• Tổng thu nhập sau khi cộng tất cả các khoản vẫn vượt mức giảm trừ.
Ví dụ:
Một người có:
• Lương tại công ty: 8 triệu đồng/tháng.
• Thu nhập làm cộng tác viên bên ngoài: 5 triệu đồng/tháng.
Tổng thu nhập nhận được là 13 triệu đồng/tháng. Khi xác định nghĩa vụ thuế, cơ quan thuế sẽ xem xét toàn bộ các khoản thu nhập chịu thuế cùng các khoản giảm trừ được hưởng, thay vì chỉ nhìn vào mức lương 8 triệu đồng từ công ty.
Vì vậy, khi xác định có phải đóng thuế TNCN hay không, người lao động không nên chỉ dựa vào con số 10 triệu đồng/tháng, mà cần tính đúng thu nhập tính thuế sau khi trừ các khoản giảm trừ theo quy định.
Lương bao nhiêu thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân?
Không có một mức lương cố định nào được quy định là “từ bao nhiêu triệu đồng trở lên thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân”. Việc một người có phát sinh thuế TNCN hay không phụ thuộc vào thu nhập tính thuế sau khi đã trừ các khoản giảm trừ, chứ không chỉ dựa vào mức lương nhận được hàng tháng.
Hiện nay, khi tính thuế TNCN từ tiền lương, tiền công, người lao động được giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người phụ thuộc. Vì vậy, số người phụ thuộc càng nhiều thì mức thu nhập có thể chưa phải nộp thuế càng cao.
Mức thu nhập bao nhiêu không phải đóng thuế TNCN hiện nay?
Theo quy định mới áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026, mức giảm trừ gia cảnh được điều chỉnh tăng lên, giúp nhiều người lao động có thu nhập thấp và trung bình không phát sinh nghĩa vụ thuế.
Mức thu nhập tham khảo chưa phải đóng thuế TNCN trong trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:
Số người phụ thuộc | Thu nhập tháng thường chưa phải đóng thuế |
Không có người phụ thuộc | Khoảng dưới 15,5 triệu đồng/tháng |
Có 1 người phụ thuộc | Khoảng dưới 21,7 triệu đồng/tháng |
Có 2 người phụ thuộc | Khoảng dưới 27,9 triệu đồng/tháng |
Có 3 người phụ thuộc | Khoảng dưới 34,1 triệu đồng/tháng |
Các mức trên được tính dựa trên:
• Mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế.
• Mức giảm trừ cho người phụ thuộc.
• Trường hợp người lao động có tham gia các khoản bảo hiểm bắt buộc.
Ví dụ:
Một người lao động không có người phụ thuộc, có thu nhập khoảng 15,5 triệu đồng/tháng. Sau khi trừ các khoản giảm trừ theo quy định, thu nhập tính thuế có thể chưa phát sinh, nên chưa phải nộp thuế TNCN.
Lưu ý: Đây chỉ là mức tham khảo trong trường hợp người lao động chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công. Nếu có thêm các nguồn thu nhập khác như làm thêm, kinh doanh, đầu tư hoặc các khoản thu nhập chịu thuế khác thì nghĩa vụ thuế có thể thay đổi.

Việc một người có phát sinh thuế TNCN hay không phụ thuộc vào thu nhập tính thuế sau khi đã trừ các khoản giảm trừ, chứ không chỉ dựa vào mức lương nhận được hàng tháng
Từ năm 2026 mức giảm trừ gia cảnh thay đổi như thế nào?
Từ kỳ tính thuế năm 2026, mức giảm trừ gia cảnh được điều chỉnh tăng so với trước đây nhằm phù hợp hơn với sự thay đổi của mức sống và chi phí sinh hoạt.
Cụ thể:
• Người nộp thuế được giảm trừ: 15,5 triệu đồng/tháng.
• Mỗi người phụ thuộc được giảm trừ: 6,2 triệu đồng/tháng.
• Việc tăng mức giảm trừ này giúp nâng ngưỡng thu nhập bắt đầu phải nộp thuế, đồng nghĩa với việc nhiều người lao động dù có mức lương cao hơn trước vẫn chưa phát sinh thuế TNCN.
Ví dụ:
Trường hợp 1: Người không có người phụ thuộc
Một người có thu nhập khoảng 17 triệu đồng/tháng:
Trừ bảo hiểm bắt buộc.
Trừ giảm trừ bản thân 15,5 triệu đồng/tháng.
Sau khi thực hiện các khoản giảm trừ, phần thu nhập tính thuế chưa phát sinh hoặc ở mức rất thấp, do đó có thể chưa phải nộp thuế TNCN.
Trường hợp 2: Người có 1 người phụ thuộc
Một người có thu nhập khoảng 24 triệu đồng/tháng:
Giảm trừ bản thân: 15,5 triệu đồng/tháng.
Giảm trừ 1 người phụ thuộc: 6,2 triệu đồng/tháng.
Cộng thêm các khoản bảo hiểm bắt buộc.
Sau khi trừ các khoản trên, người lao động cũng có thể chưa phát sinh thuế phải nộp.
Như vậy, khi xác định lương bao nhiêu thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân, người lao động cần xem xét đầy đủ các yếu tố như số người phụ thuộc, bảo hiểm bắt buộc và các khoản giảm trừ khác, thay vì chỉ dựa vào mức lương trên hợp đồng.
Cách tính thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công
Để biết một cá nhân có phải đóng thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hay không và số thuế phải nộp là bao nhiêu, cần xác định đúng thu nhập tính thuế thay vì chỉ nhìn vào mức lương nhận được hàng tháng. Đối với người lao động có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thuế TNCN được tính dựa trên phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ các khoản giảm trừ theo quy định.
Công thức tính thuế TNCN đối với người có thu nhập từ tiền lương
Công thức chung:
| Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế × Thuế suất |
Trong đó: Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế - Các khoản giảm trừ
Cụ thể:
Thu nhập chịu thuế là tổng các khoản thu nhập mà cá nhân nhận được từ tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương như:
• Tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động.
• Tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp có tính vào thu nhập chịu thuế.
• Các khoản lợi ích khác mà người lao động được hưởng theo quy định.
Sau đó, cá nhân được trừ các khoản giảm trừ gồm:
• Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế.
• Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu đã đăng ký và đủ điều kiện.
• Các khoản bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
• Các khoản đóng góp được giảm trừ khác theo quy định của pháp luật.
Ví dụ:
Một người lao động có:
Thu nhập từ tiền lương: 25 triệu đồng/tháng.
Không có người phụ thuộc.
Đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định.
Khi tính thuế, cơ quan thuế sẽ không lấy toàn bộ 25 triệu đồng để tính thuế mà sẽ trừ đi các khoản giảm trừ trước. Phần thu nhập còn lại sau khi trừ các khoản này mới là thu nhập tính thuế để áp dụng thuế suất.
Vì vậy, hai người cùng có mức lương 25 triệu đồng/tháng có thể có số thuế phải nộp khác nhau nếu số người phụ thuộc hoặc các khoản giảm trừ khác nhau.
Biểu thuế suất thu nhập cá nhân hiện nay
Đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thuế TNCN được áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Điều này có nghĩa là phần thu nhập ở các bậc khác nhau sẽ chịu các mức thuế suất khác nhau.
Biểu thuế TNCN theo tháng:
Bậc | Phần thu nhập tính thuế/tháng | Thuế suất |
1 | Đến 5 triệu đồng | 5% |
2 | Trên 5 - 10 triệu đồng | 10% |
3 | Trên 10 - 18 triệu đồng | 15% |
4 | Trên 18 - 32 triệu đồng | 20% |
5 | Trên 32 - 52 triệu đồng | 25% |
6 | Trên 52 - 80 triệu đồng | 30% |
7 | Trên 80 triệu đồng | 35% |
Ví dụ:
Một người có thu nhập tính thuế là 12 triệu đồng/tháng sẽ không phải chịu thuế suất 15% cho toàn bộ 12 triệu đồng.
Thay vào đó:
• 5 triệu đầu tiên chịu thuế suất 5%.
• 5 triệu tiếp theo chịu thuế suất 10%.
• 2 triệu còn lại chịu thuế suất 15%.
Đây chính là nguyên tắc tính thuế lũy tiến từng phần.
Như vậy, khi tính thuế TNCN từ tiền lương, người lao động cần thực hiện đúng từng bước: xác định thu nhập chịu thuế → trừ các khoản giảm trừ → xác định thu nhập tính thuế → áp dụng biểu thuế suất tương ứng. Việc này giúp tính chính xác số thuế phải nộp và tránh hiểu nhầm rằng toàn bộ tiền lương đều bị tính cùng một mức thuế suất.
Những trường hợp đặc biệt khi tính thuế thu nhập cá nhân
Bên cạnh trường hợp phổ biến là người lao động nhận lương hàng tháng từ một công ty, trên thực tế vẫn có nhiều tình huống khiến việc xác định nghĩa vụ thuế TNCN trở nên phức tạp hơn. Một người có mức lương dưới 10 triệu đồng/tháng vẫn có thể phải nộp thuế nếu phát sinh thêm các khoản thu nhập khác hoặc không được áp dụng đầy đủ các khoản giảm trừ theo quy định.
Lương dưới 10 triệu nhưng vẫn phải đóng thuế TNCN khi nào?
Như đã phân tích, mức lương 10 triệu đồng/tháng không phải là căn cứ duy nhất để xác định có phải đóng thuế TNCN hay không. Cơ quan thuế sẽ xem xét tổng thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế sau khi trừ các khoản giảm trừ được hưởng.
Một số trường hợp dù lương dưới 10 triệu đồng/tháng nhưng vẫn có thể phát sinh thuế TNCN gồm:
♦ Có nhiều nguồn thu nhập cùng lúc
Một cá nhân có thể nhận lương từ công ty nhưng đồng thời có thêm thu nhập từ công việc khác như cộng tác viên, làm thêm, hợp đồng dịch vụ... Khi đó, các khoản thu nhập chịu thuế có thể được cộng để xác định nghĩa vụ thuế.
Ví dụ:
• Lương tại công ty: 8 triệu đồng/tháng.
• Thu nhập làm thêm bên ngoài: 5 triệu đồng/tháng.
Tổng thu nhập chịu thuế có thể là 13 triệu đồng/tháng. Khi quyết toán thuế, cơ quan thuế sẽ căn cứ vào tổng thu nhập và các khoản giảm trừ để xác định cá nhân có phải nộp thuế hay không.
♦ Có thêm thu nhập từ các hoạt động khác
Ngoài tiền lương, tiền công, cá nhân còn có thể phát sinh các khoản thu nhập chịu thuế khác như:
• Thu nhập từ hoạt động kinh doanh.
• Thu nhập từ đầu tư vốn.
• Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chứng khoán.
• Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản.
• Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại.
Những khoản thu nhập này có thể phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định riêng, không phụ thuộc hoàn toàn vào mức lương hàng tháng.
♦ Không đăng ký giảm trừ người phụ thuộc dù đủ điều kiện
Trường hợp người lao động có người phụ thuộc nhưng chưa đăng ký giảm trừ thì khi tính thuế, cơ quan thuế chưa thể tự động áp dụng khoản giảm trừ này.
Ví dụ:
• Một người có mức lương 20 triệu đồng/tháng.
• Có 2 người phụ thuộc đủ điều kiện giảm trừ nhưng chưa đăng ký.
Khi chưa được giảm trừ người phụ thuộc, phần thu nhập tính thuế có thể cao hơn, dẫn đến số thuế phải nộp nhiều hơn so với trường hợp đã đăng ký đầy đủ.
♦ Có các khoản thu nhập chịu thuế khác
Một số khoản như tiền thưởng, tiền công ngoài hợp đồng lao động hoặc các khoản lợi ích khác từ người sử dụng lao động có thể được tính vào thu nhập chịu thuế nếu không thuộc trường hợp được miễn theo quy định.
Vì vậy, để xác định chính xác có phải đóng thuế TNCN hay không, người lao động cần xem xét toàn bộ thu nhập trong kỳ tính thuế, không chỉ dựa vào mức lương ghi trên hợp đồng.
Lương hưu trên 10 triệu có phải đóng thuế không?
Đây cũng là một thắc mắc phổ biến, đặc biệt với những người đã nghỉ hưu nhưng vẫn có mức lương hưu hàng tháng tương đối cao.
Theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân, khoản lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội chi trả thuộc nhóm thu nhập được miễn thuế TNCN. Vì vậy, người nhận lương hưu hàng tháng, kể cả trường hợp mức lương hưu trên 10 triệu đồng, thông thường không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản lương hưu này.
Tuy nhiên, nếu người nghỉ hưu vẫn có thêm các khoản thu nhập khác thuộc diện chịu thuế như:
• Thu nhập từ tiền lương, tiền công khi tiếp tục đi làm.
• Thu nhập từ hoạt động kinh doanh.
• Thu nhập từ đầu tư, chuyển nhượng tài sản...
thì các khoản thu nhập này có thể được xem xét tính thuế theo quy định riêng.
Ví dụ:
Một người nhận:
• Lương hưu: 15 triệu đồng/tháng.
• Thu nhập từ công việc tư vấn: 10 triệu đồng/tháng.
Khoản lương hưu được miễn thuế, nhưng khoản thu nhập từ hoạt động tư vấn có thể phát sinh nghĩa vụ thuế nếu đáp ứng điều kiện theo quy định.
Trả lương sau khi nghỉ việc tính thuế TNCN như thế nào?
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp có thể phát sinh các khoản thanh toán cho người lao động sau khi đã nghỉ việc như:
• Tiền lương còn thiếu của tháng trước.
• Tiền thưởng.
• Tiền hoa hồng.
• Các khoản thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Các khoản tiền này vẫn có thể được xem là thu nhập từ tiền lương, tiền công và được xem xét khấu trừ thuế TNCN theo quy định.
Việc có phải nộp thuế hay không phụ thuộc vào một số yếu tố như:
• Loại hợp đồng lao động hoặc hình thức chi trả thu nhập.
• Mức thu nhập thực tế nhận được.
• Các khoản giảm trừ gia cảnh mà cá nhân được hưởng.
• Việc cá nhân đã đăng ký mã số thuế và người phụ thuộc hay chưa.
Ví dụ:
Một nhân viên nghỉ việc vào tháng 6 nhưng đến tháng 7 công ty mới thanh toán khoản thưởng doanh số của tháng trước. Khoản tiền này vẫn có thể được xem xét là thu nhập từ tiền lương, tiền công và thực hiện khấu trừ thuế theo quy định nếu thuộc trường hợp phải khấu trừ.
Do đó, việc nghỉ việc không đồng nghĩa với việc các khoản tiền nhận sau đó được miễn thuế. Người lao động cần kiểm tra rõ nguồn gốc khoản thu nhập và cách doanh nghiệp thực hiện khấu trừ để đảm bảo quyền lợi khi quyết toán thuế.
Những điều cần biết để tránh sai sót khi quyết toán thuế TNCN
Việc tính thuế thu nhập cá nhân không chỉ quan trọng với doanh nghiệp khi kê khai, khấu trừ thuế mà còn liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Nếu nắm rõ các quy định về mã số thuế, giảm trừ gia cảnh và quyết toán thuế cuối năm, cá nhân có thể tránh tình trạng bị khấu trừ sai hoặc bỏ lỡ quyền lợi được hoàn thuế.
Người lao động cần làm gì để được giảm thuế TNCN?
Để được áp dụng đầy đủ các khoản giảm trừ khi tính thuế TNCN, người lao động cần chủ động thực hiện một số việc sau:
♦ Đăng ký mã số thuế cá nhân
Mỗi cá nhân có thu nhập chịu thuế cần đăng ký mã số thuế để thực hiện các thủ tục liên quan đến thuế TNCN. Mã số thuế cũng là căn cứ để cá nhân được hưởng các quyền lợi như đăng ký giảm trừ người phụ thuộc và thực hiện quyết toán thuế khi cần thiết.
♦ Đăng ký người phụ thuộc nếu đủ điều kiện
Nếu có người phụ thuộc thuộc diện được giảm trừ như con nhỏ, cha mẹ hoặc người khác theo quy định, người lao động cần thực hiện đăng ký để được tính giảm trừ gia cảnh.
Việc đăng ký người phụ thuộc giúp giảm phần thu nhập tính thuế, từ đó giảm số thuế TNCN phải nộp.
Ví dụ:
Một người lao động có thu nhập 25 triệu đồng/tháng và có 1 người phụ thuộc. Sau khi được giảm trừ thêm cho người phụ thuộc, phần thu nhập chịu thuế sẽ thấp hơn so với trường hợp không đăng ký, từ đó số thuế phải nộp cũng giảm tương ứng.
♦ Kiểm tra bảng lương và các khoản khấu trừ hàng tháng
Người lao động nên thường xuyên kiểm tra bảng lương để nắm được:
• Mức thu nhập chịu thuế được doanh nghiệp kê khai.
• Các khoản bảo hiểm bắt buộc đã được trừ.
• Số tiền thuế TNCN đã bị khấu trừ (nếu có).
• Thông tin về giảm trừ gia cảnh đã được áp dụng đầy đủ hay chưa.
Việc kiểm tra thường xuyên giúp phát hiện sớm các sai sót, tránh trường hợp đến cuối năm mới phát hiện số thuế đã bị khấu trừ chưa chính xác.
♦ Thực hiện quyết toán thuế cuối năm nếu thuộc trường hợp phải quyết toán
Cuối năm, cá nhân có thể cần thực hiện quyết toán thuế TNCN để xác định chính xác số thuế phải nộp.
Trong trường hợp doanh nghiệp đã tạm khấu trừ nhiều hơn số thuế thực tế phải nộp, người lao động có thể được hoàn lại phần thuế đã nộp thừa nếu đáp ứng đủ điều kiện.
Ngược lại, nếu số thuế đã khấu trừ chưa đủ, cá nhân cần nộp bổ sung phần còn thiếu theo quy định.
Hiểu đúng về thuế TNCN giúp bảo vệ quyền lợi người lao động
Qua những phân tích trên có thể thấy, không nên lấy mốc “lương 10 triệu đồng/tháng” để kết luận một người có phải đóng thuế thu nhập cá nhân hay không. Đây chỉ là con số được nhiều người sử dụng để tham khảo, còn căn cứ chính xác phải dựa vào thu nhập tính thuế sau khi đã trừ các khoản giảm trừ theo quy định.
Một người có cùng mức lương nhưng có số người phụ thuộc khác nhau, mức đóng bảo hiểm khác nhau hoặc có thêm nguồn thu nhập khác nhau có thể sẽ có nghĩa vụ thuế hoàn toàn khác nhau.
Hiểu đúng cách tính thuế TNCN giúp người lao động:
• Chủ động kiểm tra các khoản thuế đã được khấu trừ hàng tháng.
• Đảm bảo được hưởng đầy đủ quyền lợi giảm trừ gia cảnh.
• Tránh tình trạng nộp thuế sai hoặc bỏ sót khoản thuế được hoàn lại.
Vì vậy, thay vì chỉ quan tâm “lương bao nhiêu thì phải đóng thuế?”, người lao động nên hiểu rõ cách xác định thu nhập tính thuế và các quy định liên quan để chủ động quản lý quyền lợi tài chính của mình.
Tóm lại, câu hỏi "lương 10 triệu có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?" không thể chỉ được trả lời dựa trên mức lương nhận được mà cần căn cứ vào thu nhập tính thuế sau khi đã trừ các khoản giảm trừ theo quy định. Người lao động nên nắm rõ cách tính thuế TNCN, đăng ký đầy đủ các khoản giảm trừ để đảm bảo quyền lợi và tránh bị khấu trừ thuế chưa chính xác.
Nếu bạn muốn hiểu rõ hơn về thuế và những khái niệm kinh tế tưởng chừng khô khan nhưng lại liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày, Lược sử kinh tế học lầy lội – Tổng quan về kinh tế sẽ là một cuốn sách đáng tham khảo. Trong sách có phần “Tìm hiểu về những loại thuế chúng ta cần phải nộp”, giúp bạn giải thích các loại thuế phổ biến bằng cách trình bày sinh động, dễ hiểu, phù hợp với cả những người mới bắt đầu tìm hiểu về kinh tế và tài chính cá nhân.
Link đọc thử sách: https://drive.google.com/file/d/18Q7emv49C6NSdJ3YykkYhaFzzBhDjU7s/view?usp=sharing
Khám phá thêm trọn bộ 4 cuốn Lược sử kinh tế học lầy lội để hiểu từ những câu chuyện về tiền bạc, thuế, khủng hoảng đến cách nền kinh tế vận hành theo cách hài hước, gần gũi và dễ tiếp cận hơn nữa nhé!
Unibooks tự hào là nhà xuất bản sách phát triển bản thân hàng đầu tại Việt Nam!