Đóng bảo hiểm xã hội bao nhiêu năm thì được hưởng lương hưu?

Đóng bảo hiểm xã hội bao nhiêu năm thì được hưởng lương hưu?

Đóng bảo hiểm bao nhiêu năm thì được hưởng lương hưu? Từ ngày 01/07/2025, theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người lao động có từ đủ 15 năm đóng BHXH đã có thể đáp ứng điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu, thay vì tối thiểu 20 năm như trước. Tuy nhiên, có đủ 15 năm đóng BHXH chưa đồng nghĩa được nhận lương hưu ngay mà còn phải xem xét điều kiện về tuổi nghỉ hưu và trường hợp cụ thể.

Vậy chính xác đóng bảo hiểm bao nhiêu năm thì được hưởng lương hưu, cần đáp ứng thêm những điều kiện nào và đóng 15, 20 hay 30 năm sẽ được hưởng bao nhiêu phần trăm? Cùng UniBooks tìm hiểu chi tiết các quy định mới nhất ngay trong bài viết dưới đây.

Đóng bảo hiểm bao nhiêu năm thì được hưởng lương hưu?

Theo quy định hiện hành, người lao động có từ đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) đã có thể đáp ứng điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu. Đây là một trong những thay đổi đáng chú ý của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025.

Trước đây, theo Luật BHXH 2014, điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu thông thường là 20 năm đối với lao động nam, trong khi lao động nữ có cách tính riêng. Từ khi Luật BHXH 2024 có hiệu lực, mốc thời gian tối thiểu được giảm xuống còn 15 năm đối với cả lao động nam và lao động nữ. Vì vậy, trong năm 2026, người lao động chỉ cần có từ đủ 15 năm đóng BHXH là đã đạt điều kiện về thời gian tham gia để xem xét hưởng lương hưu.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đóng đủ 15 năm BHXH không đồng nghĩa với việc người lao động sẽ được nhận lương hưu ngay. Bên cạnh số năm tham gia BHXH, người lao động còn phải đáp ứng điều kiện về tuổi nghỉ hưu hoặc thuộc trường hợp được nghỉ hưu theo quy định của pháp luật. Một số trường hợp đặc biệt như nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động hoặc thuộc nhóm nghề, công việc đặc thù sẽ có điều kiện áp dụng riêng.

Để dễ hình dung, có thể tóm tắt quy định về thời gian đóng và tỷ lệ hưởng như sau:

Trường hợp

Thời gian đóng BHXH

Tỷ lệ hưởng lương hưu tương ứng

Người lao động đáp ứng đủ điều kiện nghỉ hưu

Từ đủ 15 năm

Tùy giới tính và số năm đóng

Lao động nữ đóng đủ 15 năm

15 năm

45%

Lao động nam đóng đủ 15 năm

15 năm

40%

Lao động nam đóng đủ 20 năm

20 năm

45%

 

Lưu ý: Tỷ lệ trên được tính trên mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH và áp dụng đối với người đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.

Một điểm người lao động cần đặc biệt chú ý là tỷ lệ hưởng của nam và nữ khi cùng đóng 15 năm không giống nhau. Theo Điều 66 Luật BHXH 2024, lao động nữ có 15 năm đóng BHXH được tính mức lương hưu bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng được cộng thêm 2%, mức tối đa là 75%.

Đối với lao động nam, nếu có thời gian đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm thì mức hưởng tương ứng với 15 năm đầu là 40%; từ năm thứ 16 đến năm thứ 19, mỗi năm đóng thêm được cộng 1%. Khi đủ 20 năm đóng BHXH, tỷ lệ hưởng là 45%. Từ sau mốc 20 năm, cứ mỗi năm đóng thêm được cộng 2% cho đến khi đạt mức tối đa 75%.

Tỷ lệ hưởng lương hưu của nam và nữ theo số năm đóng BHXH

Tỷ lệ hưởng lương hưu của nam và nữ theo số năm đóng BHXH

Ví dụ, một lao động nam đóng BHXH đủ 15 năm và đủ điều kiện nghỉ hưu thì tỷ lệ hưởng ban đầu là 40%. Nếu người này đóng được 18 năm, tỷ lệ tương ứng sẽ là 43%; nếu đóng đủ 20 năm thì tỷ lệ là 45%. Trong khi đó, lao động nữ đóng đủ 15 năm đã có tỷ lệ khởi điểm là 45%.

Như vậy, với câu hỏi “đóng bảo hiểm bao nhiêu năm thì được hưởng lương hưu?”, câu trả lời ngắn gọn là: từ đủ 15 năm đóng BHXH theo quy định đang áp dụng từ ngày 01/07/2025. Tuy nhiên, số năm đóng mới chỉ là một trong các điều kiện; người lao động còn phải đáp ứng quy định về tuổi nghỉ hưu và trường hợp nghỉ hưu tương ứng. Phần tiếp theo sẽ làm rõ các điều kiện này để xác định chính xác khi nào người lao động được bắt đầu nhận lương hưu.

Điều kiện hưởng lương hưu năm 2026 gồm những gì?

Đóng đủ 15 năm BHXH chưa có nghĩa là người lao động sẽ được nhận lương hưu ngay. Theo quy định đang áp dụng trong năm 2026, để hưởng lương hưu, người lao động cần xem xét đồng thời thời gian đã đóng BHXH, tuổi nghỉ hưu và trường hợp nghỉ hưu cụ thể. Luật BHXH 2024 đã giảm thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống còn 15 năm, qua đó mở rộng cơ hội tiếp cận chế độ hưu trí cho người lao động.

Lương hưu là một trong những quyền lợi quan trọng của hệ thống BHXH, được hình thành từ quá trình đóng góp và vận hành của quỹ bảo hiểm trong thời gian dài. Nếu muốn hiểu rõ hơn tiền đóng bảo hiểm được sử dụng như thế nào và vì sao người tham gia chỉ được chi trả khi đáp ứng những điều kiện nhất định, bạn có thể tìm hiểu thêm bảo hiểm hoạt động như thế nào.

► Điều kiện về thời gian đóng BHXH

Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, một trong những điều kiện quan trọng để hưởng lương hưu là người lao động phải có thời gian đóng BHXH từ đủ 15 năm trở lên. Quy định này được áp dụng từ ngày 01/07/2025 và tiếp tục áp dụng trong năm 2026.

Cần lưu ý, thời gian tham gia BHXH có thể phát sinh từ các hình thức khác nhau:

Người tham gia BHXH bắt buộc: Thời gian đóng BHXH trong quá trình làm việc được dùng để xác định điều kiện hưởng chế độ hưu trí. Khi đáp ứng đủ số năm đóng và các điều kiện nghỉ hưu tương ứng, người lao động có thể được giải quyết hưởng lương hưu.

Người tham gia BHXH tự nguyện: Người tham gia cũng có thể hưởng chế độ hưu trí khi đủ tuổi nghỉ hưu và có từ đủ 15 năm đóng BHXH trở lên.

Người có cả thời gian đóng BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện: Thời gian tham gia có thể được tính để xác định tổng thời gian đóng BHXH theo quy định. Vì vậy, một người từng làm việc tại doanh nghiệp và đóng BHXH bắt buộc, sau đó nghỉ việc rồi tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện vẫn có thể tích lũy thời gian đóng để hướng tới đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Ví dụ: Một người đã có 12 năm đóng BHXH bắt buộc, sau khi nghỉ việc tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện thêm 3 năm. Khi đó, tổng thời gian tham gia BHXH là 15 năm; nếu đồng thời đáp ứng điều kiện về tuổi nghỉ hưu và các quy định liên quan, người này có thể đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Đặc biệt, theo quy định hiện hành về BHXH tự nguyện, trường hợp đã đủ tuổi nghỉ hưu nhưng còn thiếu không quá 5 năm (60 tháng) để đủ 15 năm đóng BHXH, người tham gia BHXH tự nguyện có thể đóng một lần cho thời gian còn thiếu để đủ điều kiện về thời gian hưởng lương hưu. Quy định này được hướng dẫn tại Nghị định 159/2025/NĐ-CP.

Lưu ý: Mốc 15 năm là điều kiện tối thiểu về thời gian đóng BHXH, không nên hiểu rằng cứ đóng đủ 15 năm là được nhận lương hưu ngay. Người lao động còn phải đáp ứng điều kiện về tuổi nghỉ hưu hoặc thuộc trường hợp nghỉ hưu theo quy định.

► Điều kiện về tuổi nghỉ hưu năm 2026

Bên cạnh thời gian đóng BHXH, tuổi nghỉ hưu là điều kiện quan trọng tiếp theo cần xác định.

Theo lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu tại Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định 135/2020/NĐ-CP, trong điều kiện lao động bình thường, tuổi nghỉ hưu năm 2026 được xác định như sau:

Đối tượng

Tuổi nghỉ hưu theo lộ trình năm 2026

Lao động nam

61 tuổi 6 tháng

Lao động nữ

57 tuổi

 

Như vậy, nếu làm việc trong điều kiện bình thường, một lao động nam đã đóng BHXH đủ 15 năm nhưng mới 58 tuổi thì chưa thể chỉ dựa vào việc đủ 15 năm đóng để nhận lương hưu ngay. Người lao động còn phải chờ đến khi đáp ứng điều kiện về tuổi nghỉ hưu, trừ trường hợp thuộc diện được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn theo quy định.

Tương tự, một lao động nữ đủ 57 tuổi trong năm 2026 nhưng mới có 12 năm đóng BHXH thì về nguyên tắc cũng chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu 15 năm đóng BHXH để hưởng lương hưu theo trường hợp thông thường.

Cũng cần hiểu rằng các mốc 61 tuổi 6 tháng đối với nam và 57 tuổi đối với nữ là tuổi nghỉ hưu theo lộ trình của năm 2026 trong điều kiện lao động bình thường. Thời điểm nghỉ hưu và thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu của từng người còn phải xác định theo tháng, năm sinh và trường hợp cụ thể, không nên chỉ lấy năm hiện tại trừ năm sinh để kết luận.

Theo lộ trình hiện hành, tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường tiếp tục tăng dần cho đến khi đạt 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

► Những trường hợp được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn

Không phải tất cả người lao động đều phải chờ đến đúng mốc 61 tuổi 6 tháng đối với nam hoặc 57 tuổi đối với nữ trong năm 2026. Pháp luật có quy định một số trường hợp người lao động có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện tương ứng.

Các trường hợp đáng chú ý gồm:

• Người có thời gian làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục được quy định.

• Người có thời gian làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định.

• Người lao động bị suy giảm khả năng lao động và đáp ứng các điều kiện về tuổi, thời gian đóng BHXH, tỷ lệ suy giảm khả năng lao động theo quy định.

• Một số đối tượng, nghề hoặc công việc đặc thù được pháp luật quy định riêng.

Đối với một số trường hợp làm nghề, công việc hoặc làm việc tại vùng thuộc diện luật định, tuổi nghỉ hưu có thể thấp hơn tối đa 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường. Theo lộ trình năm 2026, tuổi nghỉ hưu thấp nhất tương ứng trong nhóm trường hợp này là 56 tuổi 6 tháng đối với nam và 52 tuổi đối với nữ, khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện áp dụng.

Riêng trường hợp nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động, không nên áp dụng máy móc điều kiện “15 năm đóng BHXH”. Điều 65 Luật BHXH 2024 quy định các nhóm thuộc phạm vi điều luật này khi nghỉ việc phải có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc và đáp ứng thêm điều kiện về tuổi, mức suy giảm khả năng lao động hoặc thời gian làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tùy trường hợp. Lương hưu khi nghỉ trước tuổi do suy giảm khả năng lao động cũng có thể bị giảm tỷ lệ theo quy định.

Do đó, có thể hiểu đơn giản rằng, để xác định một người có được hưởng lương hưu trong năm 2026 hay không, không nên chỉ hỏi “đã đóng đủ 15 năm chưa?” mà cần kiểm tra ít nhất hai yếu tố chính: đã đủ thời gian đóng BHXH và đã đạt tuổi nghỉ hưu theo trường hợp áp dụng hay chưa. Với các trường hợp nghỉ hưu trước tuổi hoặc đặc thù, cần đối chiếu thêm những điều kiện riêng theo quy định pháp luật.

Đóng BHXH 15 năm có được hưởng lương hưu không?

Có. Người lao động đóng đủ 15 năm BHXH có thể được hưởng lương hưu nếu đồng thời đáp ứng điều kiện về tuổi nghỉ hưu hoặc thuộc trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định. Đây là điểm mới quan trọng của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, áp dụng từ ngày 01/07/2025.

Điều 64 Luật BHXH 2024 quy định, đối với các nhóm người lao động thuộc phạm vi điều luật, khi nghỉ việc và có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên thì có thể được hưởng lương hưu nếu đáp ứng điều kiện nghỉ hưu tương ứng. Đối với BHXH tự nguyện, Điều 98 cũng quy định người tham gia được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu và có từ đủ 15 năm đóng BHXH trở lên.

Tuy nhiên, 15 năm chỉ là mốc tối thiểu về thời gian đóng BHXH, không phải cứ đủ 15 năm là lập tức được nhận lương hưu. Ví dụ, một người 50 tuổi đã đóng đủ 15 năm BHXH nhưng chưa đạt tuổi nghỉ hưu và không thuộc trường hợp được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn thì chưa thể chỉ dựa vào số năm đóng để hưởng lương hưu.

Một vấn đề khác rất đáng quan tâm là: nếu cùng đóng BHXH đủ 15 năm, lao động nam và lao động nữ được hưởng lương hưu bao nhiêu? Theo Điều 66 Luật BHXH 2024, tỷ lệ khởi điểm của hai nhóm này không giống nhau.

► Lao động nữ đóng BHXH 15 năm hưởng bao nhiêu?

Theo điểm a khoản 1 Điều 66 Luật BHXH 2024, đối với người đủ điều kiện hưởng lương hưu theo Điều 64, lao động nữ đóng đủ 15 năm BHXH được hưởng lương hưu hằng tháng bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng BHXH, tỷ lệ hưởng được cộng thêm 2%, tối đa bằng 75%.

Có thể hiểu đơn giản theo công thức:

Lương hưu hằng tháng = 45% × Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH

Ví dụ: Một lao động nữ đủ điều kiện nghỉ hưu, có 15 năm đóng BHXH và giả sử mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH để tính lương hưu của người này là 10.000.000 đồng/tháng.

Khi đó: 10.000.000 × 45% = 4.500.000 đồng/tháng

Theo giả định trên, mức lương hưu tính được là 4,5 triệu đồng/tháng.

Lưu ý: 4,5 triệu đồng chỉ là ví dụ minh họa cách tính, không phải mức lương hưu cố định dành cho tất cả lao động nữ đóng BHXH 15 năm. Số tiền thực tế còn phụ thuộc vào mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của từng người và các quy định áp dụng cho trường hợp cụ thể.

Nếu lao động nữ tiếp tục đóng BHXH sau mốc 15 năm, cứ mỗi năm đóng thêm được cộng 2%. Vì vậy, tỷ lệ hưởng có thể tăng lần lượt từ 45% ở 15 năm lên 47% ở 16 năm, 49% ở 17 năm... cho đến mức tối đa 75%.

► Lao động nam đóng BHXH 15 năm hưởng bao nhiêu?

Đối với lao động nam, cách tính có một điểm khác biệt đáng chú ý.

Theo điểm b khoản 1 Điều 66 Luật BHXH 2024, lao động nam có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH thì mức lương hưu hằng tháng tương ứng với 15 năm đóng là 40% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 1%.

Như vậy, nếu lao động nam đóng đúng 15 năm BHXH, công thức có thể trình bày như sau:

Lương hưu hằng tháng = 40% × Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH

Chẳng hạn, nếu một lao động nam đủ điều kiện nghỉ hưu, đóng BHXH 15 năm và giả sử mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là 10 triệu đồng/tháng, mức lương hưu tính theo giả định sẽ là:

10.000.000 × 40% = 4.000.000 đồng/tháng

Tức khoảng 4 triệu đồng/tháng theo các giả định nêu trên.

Với lao động nam, từ năm đóng thứ 16 đến năm thứ 19, mỗi năm được cộng thêm 1%. Khi đủ 20 năm đóng BHXH, tỷ lệ hưởng đạt 45%; sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng được cộng 2%, cho đến mức tối đa 75%.

Bảng tỷ lệ hưởng lương hưu theo số năm đóng BHXH

Bảng tỷ lệ hưởng lương hưu theo số năm đóng BHXH

Tỷ lệ trong bảng áp dụng theo cách tính tại khoản 1 Điều 66 Luật BHXH 2024 đối với người đủ điều kiện hưởng lương hưu theo Điều 64; tỷ lệ được tính trên mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.

Có thể thấy, cùng đóng BHXH 15 năm nhưng tỷ lệ khởi điểm của lao động nữ là 45%, còn lao động nam là 40%. Khi cùng đóng đủ 20 năm, lao động nữ đạt tỷ lệ 55%, trong khi lao động nam đạt 45%.

Từ mốc 20 năm trở đi, cả nam và nữ đều được cộng thêm 2% cho mỗi năm đóng BHXH, nhưng thời điểm đạt mức tối đa 75% khác nhau. Theo công thức tại Điều 66, lao động nữ thông thường đạt tỷ lệ tối đa 75% khi có 30 năm đóng BHXH, còn lao động nam đạt 75% khi có 35 năm đóng BHXH.

Tóm lại: Nếu hỏi “đóng BHXH 15 năm có được hưởng lương hưu không?”, câu trả lời là có thể được nếu người lao động đồng thời đáp ứng đầy đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định. Với cách tính thông thường nêu trên, 15 năm đóng BHXH tương ứng tỷ lệ 45% đối với nữ và 40% đối với nam. Số tiền lương hưu thực nhận không cố định mà còn phụ thuộc vào mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH và trường hợp cụ thể của từng người.

Đóng BHXH 20 năm được hưởng lương hưu bao nhiêu?

Nếu đóng BHXH đủ 20 năm, tỷ lệ hưởng lương hưu theo cách tính thông thường là 45% đối với lao động nam và 55% đối với lao động nữ, với điều kiện người lao động đáp ứng đầy đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.

Cần lưu ý, các tỷ lệ 45% và 55% không phải tỷ lệ tính trên mức lương cuối cùng trước khi nghỉ hưu. Lương hưu hằng tháng được xác định dựa trên tỷ lệ hưởng và mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH theo quy định.

► Lao động nam đóng BHXH 20 năm hưởng bao nhiêu?

Theo Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, đối với lao động nam đủ điều kiện hưởng lương hưu theo Điều 64, 20 năm đóng BHXH tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.

Có thể hiểu theo công thức:

Lương hưu hằng tháng = 45% × Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH

Sau mốc 20 năm, cứ mỗi năm đóng BHXH thêm, lao động nam được cộng 2%, cho đến khi đạt tỷ lệ tối đa 75%.

Ví dụ:

• 20 năm → 45%

• 21 năm → 47%

• 25 năm → 55%

• 30 năm → 65%

• 35 năm → 75%

Như vậy, theo cách tính thông thường, lao động nam cần 35 năm đóng BHXH để đạt tỷ lệ hưởng tối đa 75%.

► Lao động nữ đóng BHXH 20 năm hưởng bao nhiêu?

Đối với lao động nữ, 15 năm đóng BHXH đầu tiên tương ứng với tỷ lệ hưởng 45%. Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được cộng thêm 2%.

Do đó, khi đóng đủ 20 năm: 45% + (20 - 15) × 2% = 55%

Như vậy, lao động nữ đóng BHXH 20 năm có tỷ lệ hưởng lương hưu là 55% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.

Công thức:

Lương hưu hằng tháng = 55% × Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH

Nếu tiếp tục tham gia BHXH, tỷ lệ của lao động nữ tiếp tục tăng 2% cho mỗi năm đóng thêm và đạt mức tối đa 75% khi có 30 năm đóng BHXH theo cách tính thông thường.

Có thể so sánh nhanh:

Đối tượng

Đóng BHXH 20 năm

Tỷ lệ hưởng

Lao động nam

20 năm

45%

Lao động nữ

20 năm

55%

 

Như vậy, cùng đóng BHXH 20 năm nhưng tỷ lệ hưởng của lao động nữ cao hơn lao động nam 10 điểm phần trăm do công thức xác định tỷ lệ hưởng lương hưu giữa nam và nữ khác nhau.

► Ví dụ cách tính lương hưu khi đóng BHXH 20 năm

Để dễ hình dung đóng BHXH 20 năm được hưởng lương hưu bao nhiêu tiền mỗi tháng, giả sử người lao động đã đủ điều kiện nghỉ hưu và có mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH lần lượt là 6 triệu, 8 triệu, 10 triệu và 15 triệu đồng/tháng.

Mức lương hưu ước tính như sau:

Cách tính lương hưu khi đóng BHXH 20 năm

Cách tính lương hưu khi đóng BHXH 20 năm

Ví dụ, một lao động nam có 20 năm đóng BHXH và mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là 10 triệu đồng/tháng thì:

10.000.000 × 45% = 4.500.000 đồng/tháng

Mức lương hưu tính theo giả định là 4,5 triệu đồng/tháng.

Nếu cũng có mức bình quân tiền lương 10 triệu đồng/tháng nhưng là lao động nữ đóng đủ 20 năm thì:

10.000.000 × 55% = 5.500.000 đồng/tháng

Mức tính theo giả định là 5,5 triệu đồng/tháng.

Lưu ý: Các con số trong bảng trên chỉ là ví dụ minh họa để người đọc dễ hiểu cách tính, không phải mức lương hưu cố định dành cho tất cả người đóng BHXH 20 năm. Mức hưởng thực tế còn phụ thuộc vào mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của từng người, thời gian đóng, thời điểm nghỉ hưu và trường hợp áp dụng cụ thể.

Tóm lại, với câu hỏi “đóng BHXH 20 năm được hưởng lương hưu bao nhiêu?”, có thể nhớ nhanh: lao động nam hưởng tỷ lệ 45%, lao động nữ hưởng tỷ lệ 55% theo cách tính thông thường. Muốn biết số tiền cụ thể mỗi tháng, cần lấy tỷ lệ tương ứng nhân với mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động.

Đóng BHXH 25 năm, 30 năm, 35 năm được hưởng bao nhiêu % lương hưu?

Số năm đóng BHXH càng nhiều thì tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng càng cao, nhưng mức tối đa không vượt quá 75% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Do cách tính giữa lao động nam và lao động nữ khác nhau nên cùng một số năm tham gia BHXH, tỷ lệ hưởng lương hưu có thể không giống nhau.

Theo Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, đối với người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo Điều 64, cách xác định tỷ lệ hưởng cơ bản như sau:

• Lao động nữ: 15 năm đóng BHXH tương ứng 45%; sau đó cứ thêm mỗi năm đóng được cộng 2%, tối đa 75%.

• Lao động nam: 20 năm đóng BHXH tương ứng 45%; sau đó cứ thêm mỗi năm đóng được cộng 2%, tối đa 75%. Riêng trường hợp nam có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH, 15 năm tương ứng 40% và mỗi năm đóng thêm được cộng 1%.

Từ công thức trên, có thể đối chiếu nhanh tỷ lệ hưởng lương hưu theo số năm đóng BHXH như sau:

Tỷ lệ hưởng lương hưu theo số năm đóng BHXH

Tỷ lệ hưởng lương hưu theo số năm đóng BHXH

Lưu ý: Bảng trên thể hiện tỷ lệ hưởng theo cách tính thông thường tại Điều 66 Luật BHXH 2024 đối với người đủ điều kiện hưởng lương hưu theo Điều 64. Tỷ lệ này được nhân với mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH để xác định mức lương hưu hằng tháng. Một số trường hợp nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động có cách điều chỉnh tỷ lệ riêng.

Đóng BHXH 25 năm được hưởng bao nhiêu phần trăm lương hưu?

Nếu có 25 năm đóng BHXH, tỷ lệ hưởng được xác định như sau:

♦ Đối với lao động nam:

20 năm đầu: 45%.

5 năm tiếp theo: 5 × 2% = 10%.

Tổng tỷ lệ hưởng: 45% + 10% = 55%.

Như vậy, lao động nam đóng BHXH 25 năm có tỷ lệ hưởng lương hưu là 55%.

♦ Đối với lao động nữ:

15 năm đầu: 45%.

10 năm tiếp theo: 10 × 2% = 20%.

Tổng tỷ lệ hưởng: 45% + 20% = 65%.

Do đó, lao động nữ đóng BHXH 25 năm có tỷ lệ hưởng lương hưu là 65%.

Ví dụ, nếu mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là 10 triệu đồng/tháng thì theo giả định này:

• Nam: 10 triệu × 55% = 5,5 triệu đồng/tháng.

• Nữ: 10 triệu × 65% = 6,5 triệu đồng/tháng.

Đóng BHXH 30 năm được hưởng bao nhiêu phần trăm lương hưu?

Với 30 năm đóng BHXH, sự khác biệt giữa lao động nam và nữ thể hiện rõ hơn.

♦ Đối với nam:

45% + (30 - 20) × 2% = 65%

Như vậy, lao động nam đóng BHXH 30 năm có tỷ lệ hưởng lương hưu là 65%.

♦ Đối với nữ:

45% + (30 - 15) × 2% = 75%

Như vậy, lao động nữ đóng BHXH 30 năm đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa 75% theo công thức thông thường.

Nếu cùng giả định mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là 10 triệu đồng/tháng thì mức tính tương ứng sẽ là:

• Nam: 10 triệu × 65% = 6,5 triệu đồng/tháng.

• Nữ: 10 triệu × 75% = 7,5 triệu đồng/tháng.

Đóng BHXH 35 năm được hưởng bao nhiêu phần trăm lương hưu?

Đối với lao động nam, 35 năm là mốc đủ để đạt tỷ lệ 75% theo cách tính thông thường:

45% + (35 - 20) × 2% = 75%

Do đó, lao động nam đóng BHXH 35 năm có tỷ lệ hưởng lương hưu 75%.

Đối với lao động nữ, tỷ lệ 75% đã đạt được từ mốc 30 năm đóng BHXH. Vì pháp luật quy định tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng tối đa là 75%, nên khi có 35 năm đóng BHXH, tỷ lệ hưởng của lao động nữ vẫn là 75%, không tăng thành 85%.

Điều này cũng có nghĩa rằng:

Tỷ lệ hưởng lương hưu theo thời gian đóng BHXH

Tỷ lệ hưởng lương hưu theo thời gian đóng BHXH

Theo cách tính thông thường, lao động nữ cần 30 năm đóng BHXH và lao động nam cần 35 năm đóng BHXH để đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa 75%.

Tuy nhiên, 75% là tỷ lệ hưởng chứ không phải 75% mức lương cuối cùng trước khi nghỉ việc. Tỷ lệ này được áp dụng trên mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH được xác định theo quy định. Vì vậy, hai người cùng có tỷ lệ hưởng 75% nhưng mức lương hưu thực tế vẫn có thể khác nhau do mức bình quân tiền lương đóng BHXH khác nhau.

Ngoài ra, việc đóng BHXH vượt số năm cần thiết để đạt tỷ lệ 75% không làm tỷ lệ lương hưu hằng tháng tăng vượt 75%. Tuy nhiên, người lao động có thời gian đóng cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ tối đa có thể được xem xét trợ cấp một lần khi nghỉ hưu nếu đáp ứng điều kiện theo Luật BHXH 2024.

Như vậy, nếu xét theo công thức hưởng lương hưu thông thường, có thể nhớ nhanh: nam đóng 25 năm hưởng 55%, 30 năm hưởng 65%, 35 năm hưởng 75%; nữ đóng 25 năm hưởng 65% và từ 30 năm trở lên đạt mức tối đa 75%. Số tiền lương hưu thực nhận sẽ được xác định dựa trên tỷ lệ này và mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của từng người.

Đóng BHXH chưa đủ 15 năm thì có được hưởng lương hưu không?

Theo quy định hiện hành, nếu chưa đủ 15 năm đóng BHXH thì người lao động chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo trường hợp thông thường. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa toàn bộ thời gian đã đóng BHXH bị mất hoặc người lao động bắt buộc phải nhận BHXH một lần.

Luật BHXH 2024 cho phép người lao động chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa nhận BHXH một lần hoặc trợ cấp hằng tháng theo quy định được bảo lưu thời gian đã đóng BHXH. Người lao động có thể tiếp tục tham gia để tích lũy đủ số năm cần thiết.

Ví dụ, một người đã có 12 năm đóng BHXH rồi nghỉ việc. Nếu chưa nhận BHXH một lần, 12 năm này có thể được bảo lưu. Sau đó người lao động có thể tiếp tục tham gia BHXH phù hợp để tích lũy thêm thời gian, thay vì phải đóng lại từ đầu.

♦ Có được đóng tiếp BHXH để đủ 15 năm không?

Có. Nếu chưa đủ 15 năm, người lao động có thể tiếp tục tham gia BHXH để tích lũy đủ thời gian đóng theo quy định.

Trường hợp nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu, Điều 71 Luật BHXH 2024 quy định người lao động được bảo lưu thời gian đóng BHXH nếu chưa hưởng BHXH một lần hoặc trợ cấp hằng tháng theo quy định.

Chẳng hạn:

Anh A đã đóng BHXH bắt buộc được 10 năm rồi nghỉ việc. Nếu anh A không nhận BHXH một lần thì 10 năm đã đóng được bảo lưu. Sau này anh tiếp tục tham gia thêm 5 năm và đáp ứng các điều kiện hưởng lương hưu tương ứng thì tổng thời gian có thể đạt 15 năm.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những người đã có thời gian tham gia BHXH tương đối dài. Thay vì rút BHXH một lần, người lao động nên cân nhắc mục tiêu an sinh lâu dài và các lựa chọn tiếp tục tham gia trước khi quyết định.

♦ Có thể chuyển sang đóng BHXH tự nguyện không?

Có thể. Đây là một giải pháp đáng cân nhắc đối với người đã nghỉ việc, không còn thuộc diện đóng BHXH bắt buộc nhưng muốn tiếp tục tích lũy thời gian để đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Ví dụ, một người có:

11 năm BHXH bắt buộc + 4 năm BHXH tự nguyện = 15 năm đóng BHXH

Thời gian tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện được xem xét trên tổng thời gian đóng theo quy định khi giải quyết chế độ. Nghị định 159/2025/NĐ-CP cũng có quy định cách xác định chế độ đối với người vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc, vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện.

Như vậy, người đã nghỉ làm tại doanh nghiệp không nhất thiết phải chờ đến khi có công việc mới thuộc diện BHXH bắt buộc mới tiếp tục tích lũy thời gian. Nếu thuộc đối tượng tham gia, người lao động có thể cân nhắc BHXH tự nguyện để nối tiếp quá trình tham gia.

Xem thêm: Bảo hiểm xã hội tự nguyện là gì? Mức đóng và quyền lợi mới nhất

♦ Có được đóng BHXH một lần cho những năm còn thiếu không?

Có trong một số trường hợp, nhưng không phải bất cứ người nào thiếu dưới 15 năm cũng được đóng bù một lần ngay lập tức.

Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý vì quy định từ ngày 01/07/2025 đã thay đổi so với thông tin cũ vẫn còn xuất hiện trên Internet.

Theo Điều 7 Nghị định 159/2025/NĐ-CP, người tham gia BHXH tự nguyện đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định nhưng còn thiếu không quá 5 năm (60 tháng) đóng BHXH thì được đóng một lần cho thời gian còn thiếu để đủ 15 năm, từ đó đáp ứng điều kiện về thời gian để hưởng lương hưu. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/07/2025.

Có thể hình dung:

Trường hợp giả định

Có thể đóng một lần cho đủ 15 năm?

Đã đủ tuổi nghỉ hưu, đã đóng 14 năm

Có thể, nếu đáp ứng điều kiện áp dụng

Đã đủ tuổi nghỉ hưu, đã đóng 12 năm

Có thể, nếu đáp ứng điều kiện áp dụng

Đã đủ tuổi nghỉ hưu, đã đóng 10 năm

Có thể, do còn thiếu đúng 5 năm, nếu đáp ứng điều kiện

Đã đủ tuổi nghỉ hưu, mới đóng 8 năm

Không thuộc trường hợp đóng một lần theo mốc thiếu ≤ 5 năm này

Chưa đủ tuổi nghỉ hưu, đã đóng 12 năm

Không thể chỉ dựa vào việc thiếu ≤ 5 năm để áp dụng quy định này

 

Điểm mấu chốt là phải đáp ứng đồng thời điều kiện về tuổi và điều kiện về thời gian còn thiếu, đồng thời thuộc hình thức tham gia mà quy định áp dụng. Vì vậy, không nên hiểu đơn giản rằng “cứ còn thiếu tối đa 5 năm là có thể đóng bù một lần”.

BHXH Việt Nam cũng đã cập nhật hướng dẫn năm 2026, trong đó nêu chính sách đóng một lần cho thời gian còn thiếu tối đa 5 năm dành cho người tham gia BHXH tự nguyện hoặc người chuyển tiếp từ BHXH bắt buộc khi đáp ứng điều kiện. Ngoài ra còn có một trường hợp khác đối với người đang tham gia BHXH bắt buộc đã đủ tuổi nghỉ hưu nhưng thiếu tối đa 6 tháng đóng BHXH, với cơ chế đóng một lần và căn cứ pháp lý riêng.

Ví dụ: Bà B đã đủ tuổi nghỉ hưu và có tổng cộng 12 năm đóng BHXH, sau đó tham gia BHXH tự nguyện. Bà còn thiếu 3 năm (36 tháng) để đạt mốc 15 năm. Nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo Nghị định 159/2025/NĐ-CP, bà có thể lựa chọn đóng một lần cho 36 tháng còn thiếu để đủ 15 năm và hoàn thiện điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu.

Mức tiền phải đóng một lần không đơn giản bằng lấy mức đóng tháng hiện tại nhân với số tháng còn thiếu. Nghị định 159/2025/NĐ-CP quy định mức đóng được xác định trên tổng mức đóng của các tháng còn thiếu và áp dụng lãi gộp theo lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân tháng của năm trước liền kề do BHXH Việt Nam công bố.

Như vậy, nếu đóng BHXH chưa đủ 15 năm, người lao động chưa đủ điều kiện về thời gian để hưởng lương hưu theo trường hợp thông thường, nhưng vẫn có nhiều hướng xử lý: bảo lưu thời gian đã đóng, tiếp tục tham gia BHXH, chuyển sang BHXH tự nguyện hoặc đóng một lần cho thời gian còn thiếu nếu thuộc đúng trường hợp pháp luật cho phép. Vì thế, đặc biệt với người đã có 10–14 năm đóng BHXH, nên kiểm tra kỹ số tháng đã tham gia và điều kiện của bản thân trước khi lựa chọn nhận BHXH một lần.

Đóng BHXH trên 15 năm nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưu thì sao?

Người lao động đã đóng BHXH từ đủ 15 năm trở lên nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưu thì chưa thể nhận lương hưu ngay chỉ vì đã đủ số năm đóng BHXH. Trong trường hợp thông thường, người lao động cần đồng thời đáp ứng điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi nghỉ hưu theo quy định.

Nói cách khác, mốc 15 năm chỉ giúp người lao động đáp ứng điều kiện tối thiểu về thời gian đóng BHXH. Nếu chưa đến tuổi nghỉ hưu và không thuộc trường hợp được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn thì người lao động vẫn phải chờ đến khi đủ điều kiện mới được giải quyết hưởng lương hưu.

Ví dụ, một lao động nam 55 tuổi đã có 20 năm đóng BHXH. Mặc dù số năm đóng đã vượt mức tối thiểu 15 năm, người này vẫn chưa thể nhận lương hưu ngay nếu chưa đạt tuổi nghỉ hưu và không thuộc trường hợp nghỉ hưu sớm theo quy định.

Trong thời gian chờ đủ tuổi, người lao động có thể cân nhắc một số phương án sau:

► Bảo lưu thời gian đã đóng BHXH

Nếu nghỉ việc nhưng chưa đủ tuổi hưởng lương hưu, người lao động có thể bảo lưu thời gian đã đóng BHXH theo quy định nếu chưa hưởng BHXH một lần hoặc chế độ khác làm chấm dứt thời gian được bảo lưu.

Điều này có nghĩa là số năm BHXH đã tích lũy không phải đóng lại từ đầu chỉ vì người lao động ngừng làm việc.

Ví dụ, một người đã đóng BHXH được 18 năm rồi nghỉ việc ở tuổi 52. Nếu bảo lưu thời gian tham gia, 18 năm này vẫn được ghi nhận. Khi người lao động đến tuổi nghỉ hưu và đáp ứng đầy đủ các điều kiện liên quan, thời gian đã bảo lưu sẽ được sử dụng để giải quyết chế độ hưu trí.

► Tiếp tục tham gia BHXH để tăng tỷ lệ hưởng lương hưu

Nếu chưa đến tuổi nghỉ hưu, người lao động cũng có thể tiếp tục tham gia BHXH thay vì dừng lại ngay khi đã đủ 15 năm.

Nếu tiếp tục làm công việc thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì người lao động tiếp tục đóng BHXH bắt buộc theo quy định. Trường hợp không còn thuộc diện BHXH bắt buộc, người lao động có thể xem xét tham gia BHXH tự nguyện nếu thuộc đối tượng tham gia.

Việc tiếp tục đóng có ý nghĩa bởi 15 năm chỉ là mốc tối thiểu để mở điều kiện hưởng lương hưu, không phải mốc để đạt tỷ lệ hưởng tối đa.

Theo Điều 66 Luật BHXH 2024, với cách tính thông thường:

Thời gian đóng BHXH

Lao động nam

Lao động nữ

15 năm

40%

45%

20 năm

45%

55%

25 năm

55%

65%

30 năm

65%

75%

35 năm

75%

75%

 

Do đó, một lao động nữ mới 50 tuổi nhưng đã đóng đủ 15 năm BHXH có thể lựa chọn tiếp tục tham gia. Nếu sau này tổng thời gian đóng đạt 25 năm, tỷ lệ hưởng theo công thức thông thường có thể tăng từ 45% lên 65%.

Tương tự, lao động nam từ mốc 20 năm trở đi, cứ mỗi năm đóng thêm được cộng 2%, cho đến mức tối đa 75%.

Điểm cần nhớ: Đóng đủ 15 năm giúp đáp ứng mốc thời gian tối thiểu; tiếp tục đóng BHXH có thể giúp tăng tỷ lệ hưởng lương hưu về sau.

► Có thể bảo lưu và chờ đến khi đủ tuổi nghỉ hưu

Người lao động không bắt buộc phải tiếp tục đóng BHXH chỉ để duy trì số năm đã tích lũy nếu đã dừng tham gia và đủ điều kiện bảo lưu.

Ví dụ, một lao động nữ đã có 22 năm đóng BHXH nhưng nghỉ việc trước tuổi nghỉ hưu. Nếu không tiếp tục tham gia và không nhận BHXH một lần, người lao động có thể bảo lưu thời gian đã đóng và chờ đến khi đạt tuổi nghỉ hưu theo quy định để làm thủ tục hưởng chế độ, nếu khi đó đáp ứng đầy đủ điều kiện.

Đây cũng là lý do người lao động nên cân nhắc kỹ giữa việc bảo lưu BHXH để chờ hưởng lương hưu và nhận BHXH một lần, đặc biệt khi đã tích lũy được từ 15 năm trở lên.

► Trường hợp nào có thể nghỉ hưu sớm?

Không phải mọi trường hợp đều phải chờ đến đúng tuổi nghỉ hưu áp dụng cho người làm việc trong điều kiện bình thường

Pháp luật quy định một số trường hợp có thể hưởng lương hưu ở tuổi thấp hơn, chẳng hạn người có đủ thời gian làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người có đủ thời gian làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người bị suy giảm khả năng lao động; và một số trường hợp đặc thù khác theo quy định.

Tuy nhiên, không nên hiểu “đã đóng trên 15 năm” đồng nghĩa với “được nghỉ hưu sớm”. Mỗi nhóm nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn có điều kiện riêng về tuổi, thời gian làm nghề/công việc, thời gian đóng BHXH hoặc mức suy giảm khả năng lao động.

Đáng chú ý, đối với người nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động theo Điều 65 Luật BHXH 2024, điều kiện về thời gian đóng không áp dụng đơn giản theo mốc 15 năm như trường hợp nghỉ hưu thông thường. Người thuộc phạm vi điều luật này phải có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc và đáp ứng thêm các điều kiện tương ứng. Trường hợp nghỉ trước tuổi cũng có thể bị giảm tỷ lệ hưởng lương hưu theo quy định.

Vì vậy, nếu đã đóng BHXH trên 15 năm nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưu, có thể hiểu theo sơ đồ đơn giản:

Đã đóng ≥ 15 năm BHXH

→ Đã đủ tuổi nghỉ hưu?

→ Có: kiểm tra các điều kiện còn lại để làm thủ tục hưởng lương hưu.

→ Chưa: kiểm tra có thuộc diện nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn hay không.

→ Nếu không: có thể bảo lưu thời gian đã đóng hoặc tiếp tục tham gia BHXH và chờ đến khi đủ tuổi.

Tóm lại, đóng BHXH trên 15 năm nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưu thì thông thường chưa được nhận lương hưu ngay. Người lao động có thể bảo lưu số năm đã đóng, tiếp tục tham gia để tăng tỷ lệ hưởng hoặc chờ đến khi đủ tuổi nghỉ hưu. Chỉ những trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn theo quy định mới có thể hưởng lương hưu sớm hơn mốc tuổi thông thường.

Như vậy, với câu hỏi “Đóng bảo hiểm xã hội bao nhiêu năm thì được hưởng lương hưu?”, theo quy định áp dụng năm 2026, người lao động cần có từ đủ 15 năm đóng BHXH và đồng thời đáp ứng điều kiện về tuổi nghỉ hưu hoặc các điều kiện tương ứng với từng trường hợp cụ thể. Việc nắm rõ số năm đã đóng, tỷ lệ hưởng và các phương án bảo lưu hoặc tiếp tục tham gia BHXH sẽ giúp người lao động chủ động hơn trong kế hoạch tài chính và đảm bảo quyền lợi khi về hưu.

Bảo hiểm không chỉ là câu chuyện về mức đóng hay quyền lợi, mà còn gắn với cách nền kinh tế chia sẻ và phân bổ rủi ro. Nếu muốn hiểu chủ đề này theo cách gần gũi, dễ tiếp cận hơn, bạn có thể tìm đọc “Lược sử kinh tế học lầy lội – Tổng quan về kinh tế”. Cuốn sách dành riêng phần “Đôi nét về bảo hiểm” để giúp người đọc khám phá bảo hiểm dưới góc nhìn kinh tế học một cách trực quan và thú vị.

Link đọc thử sách: https://drive.google.com/file/d/18Q7emv49C6NSdJ3YykkYhaFzzBhDjU7s/view?usp=sharing

Unibooks tự hào là nhà xuất bản sách phát triển bản thân hàng đầu tại Việt Nam!

Unibooks.vn

Đang xem: Đóng bảo hiểm xã hội bao nhiêu năm thì được hưởng lương hưu?